Thứ Hai, ngày 24 tháng 11 năm 2014

Đi tìm lá số Lưu Quang Vũ



Đi tìm lá số Lưu Quang Vũ

Đời sống là bờ
Nhưng giấc mơ là biển
Bờ không còn nếu chẳng có khơi xa
Lưu Quang Vũ

Nói đến Lưu Quang Vũ là nói đến một hiện tượng, một nhà thơ, một nhà biên kịch tài năng. Một tài năng sáng chói rồi vụt tắt đi trên đất Việt. Cái chết của anh là một tổn thất lớn cho văn hóa Việt. Và có khá nhiều nghi vấn qua tai nạn này
Chẳng hạn như có nguồn dư luận anh chết vì dám nói, qua những vở kịch anh viết đã phá vào tận trong cùng sâu thẳm của sự mất nhân cách, sự biến thái của tình người. …mà những cái đó là do đâu ? .
Theo hồi ức của bà Lưu Quang Thuận ( tức Vũ Thị Khánh ) mẹ của Lưu Quang Vũ trích trong trang 9 của tập thơ Lưu Quang Vũ thơ và đời của NXB Văn hóa – Thông tin in năm 1999 thì Vũ ra đời vào buổi trưa ngày nắng đẹp năm Mậu tí ( 17 – 04 – 1948 ) . Với những người say mê môn tử vi, chúng ta cùng nhau thử đi tìm lá số của ông

Chủ nhật vừa rồi 23 -11 -2014 để tưởng nhớ đến Lưu Quang Vũ, báo Thanh niên có bài viết Thăm thẳm phận người  của TÂN LINH khá hay. Nhưng cái thăm thẳm phận người qua những vở kịch của Lưu Quang Vũ trong một xã hội toàn trị thì tác giả không nói đến nhưng Lưu Quang Vũ đã nói …..

Lá số Lưu Quang Vũ :


Sau đây là luận của Hoa Cái :
Luận giải của Hoa cái
Sinh ngày 17 tháng 4 DL, 1948 giờ Ngọ
Chết ngày 29 tháng 8 DL, 1988
Đúng số .
Mệnh bị Kình Đà uy hiếp . Vợ bị Hoả, chồng bị Linh làm đoản thọ . Cung Con bị Hình Riêu .cùng nhiều sát tinh hội chiếu .
DH gặp Hình Riêu (thế giáp góc) tức tai nạn dính chùm . Cung Thê liên đới vì xung với DH có Tang Hổ Hoả Kình .
Năm 1988, 2 Kình 2 Đà giáp công Mệnh và DH . Toàn bộ Lục Hại có sẳn nay được gia sức, tấn đánh ca'c cường cung trong đó có DH .
Có thể nào gia đình họ Lưu bị mưu sát (1) vì lý do chính trị giống như tướng 4 sao bị đám họ Lê ra tay ? (2)
Theo thiễn nghĩ dựa trên lá số thì đây là tai nạn tình cơ !

Dưới đây là bài viết của TÂN LINH

Nhà viết kịch nổi tiếng Lưu Quang Vũ về miền cát bụi đã gần một phần tư thế kỷ. Thời gian qua, bỗng dưng kịch của anh trở lại, được dựng liên tiếp, diễn ngoài bắc trong nam, kéo công chúng lũ lượt vào rạp. Đó chính là giá trị dài lâu của nghệ thuật.

Có một thời Lưu Quang Vũ “bùng nổ” ghê gớm. Anh viết trong vòng mấy năm mà đến dăm chục vở kịch lớn. Nhiều vở cùng lúc 7 - 8 đoàn dựng. Có vở như Hồn Trương Ba da hàng thịt được các đoàn đưa đi diễn ở nước ngoài, tại Nga tại Mỹ gây tiếng vang lừng lẫy. Những Sống mãi tuổi 17, Tôi và chúng ta, Ông không phải là bố tôi, Lời thề thứ 9… được dựng diễn từ nam chí bắc. Nhiều vở tôi xem đi xem lại mấy lần mà lần nào cũng thấy khán giả xúc động lau nước mắt.
Nhưng cái phận người thăm thẳm. Nào ai biết nó nông sâu. Lưu Quang Vũ mất đột ngột trong một tai nạn thảm khốc, cùng với người bạn thơ bạn đời Xuân Quỳnh và cháu Quỳnh Thơ. Không có huân chương nào được tặng, trước và sau sự ra đi ấy. Chỉ đến khi tác giả đã khuất xa, với độ lùi thời gian khá dài, một giải thưởng nhà nước được truy tặng. Sự muộn mằn ấy chỉ để làm thanh thản ai đó, trong số những người còn sống ở trên đời?
Sức mạnh qua kịch của Vũ đã an ủi và vực dậy bao nhiêu số phận, linh hồn tội nghiệp. Trong mắt dân chúng và người yêu nghệ thuật, Vũ nổi lên như một người hùng. Nhưng đúng là cái phận người. Còn nhớ, đến khi gia đình và nhiều tổ chức, cơ quan muốn đưa thi hài anh vào quàn nhà lạnh Bệnh viện Việt Xô, hoặc bạn bè muốn quàn anh ở ngôi nhà chung của văn nghệ sĩ tại 51 Trần Hưng Đạo (Hà Nội) thật không dễ bởi sự cứng nhắc về “tiêu chuẩn” và cả sự vô cảm lạnh lùng... Phải chạy vạy, phải cần đến sự ra tay của bạn bè, cả khi đưa về an táng ở nghĩa trang Văn Điển... Chao ôi! Làm cái kiếp người trong thăm thẳm đoạn trường, hình như thân phận nào cũng có bi kịch. Sự mất mát nào mà chả buồn. Lại có cả những sự buồn ngoài những mất mát.
Nhưng được - mất, đối với người đã khuất cũng chẳng để làm gì. Ôi chao! Phận người thăm thẳm.  

Thăm thẳm phận người

Thứ Năm, ngày 23 tháng 10 năm 2014

Nhân duyên - cuộc đời sòng phẳng

Trong Kinh Pháp Hoa ở trong phẩm Ngũ bá đệ tử thọ ký và thọ học vô học nhơn ký được chuyển về thi của cư sĩ Từ Hoa Nhất Tuệ Tâm có đoạn :
Mãn-Từ-Tử, bậc biện tài đệ nhất 
Lắng nghe từ kim khẩu Đức Như Lai 
Nhân duyên kia muôn kiếp cũng là đây
Tự mình tạo rồi tự mình thọ nhận..


Nhà phiên dịch, nhà giáo Thái Bá Tân đã chuyển ý kia thành thơ 5 chữ rất hay :
.....

Lần nữa xin nhắc lại
Lời dạy của Thích Ca:
Sai đúng hay tốt xấu
Đều phụ thuộc vào ta.

Anh không thể nói dối
Mà thành người chân thành.
Càng không thể làm ác
Mà nhận được điều lành.

Anh không thể lười biếng
Mà tiền bạc đầy nhà.
Không thể ngại đọc sách
Mà kiến thức sâu xa.

Nhân nào thì quả ấy
Là chân lý xưa nay.
Vậy mong các bác trẻ 
Luôn ghi nhớ điều này.

Thứ Tư, ngày 23 tháng 7 năm 2014

TẢN MẠN CHUYỆN ĐỜI - NGẪM VÀ NGHĨ

TẢN MẠN CHUYỆN ĐỜI - NGẪM VÀ NGHĨ

Dạo chơi trên mạng gặp chị Hậu Khảo Cổ. Chợt nhớ đến cụ Vương cổ ngoạn tức cụ Vương Hồng Sển. Chết đi di chúc cụ để lại cụ hiến tặng Bảo Tàng Vương Hồng Sển cho nhà nước không biết bây giờ cái bảo tàng ấy ra sao ?
Chợt nhớ lại cụ dẫn ra một câu ngạn ngữ của Pháp với nguyên văn nhưng mình không biết tiếng Pháp nhưng cụ dịch ra tiếng Việt không hiểu sao bây giờ bất chợt mình lại nhớ :
Hãy tôn thờ những gì ngươi đã đốt và hãy đốt những gì ngươi tôn thờ

Chợt liên tưởng đến một câu danh ngôn hay phương ngôn của ai mình cũng không rõ :

" Nếu anh bắn vào quá khứ bằng súng lục thì tương lại sẽ bắn anh bằng đại bác "

ngẫm nghĩ chuyện thời nay .....

Chủ Nhật, ngày 22 tháng 6 năm 2014

Thoát Trung:Giã từ nền văn hoá quỳ lạy

Lê Phú Khải
Có lần, Hán Cao Tổ Lưu Bang (202 trước Công nguyên) nói với Lục Giả: “Ta ngồi trên lưng ngựa mà có được thiên hạ thì cần gì phải học Thi, Thư…”. Nhưng rồi Hán Cao Tổ cũng nghe lời khuyên của Lục Giả trọng dụng kẻ sĩ, đề cao Nho giáo để củng cố ngai vàng.


 Đến đời Hán Vũ Đế (140 trước Công nguyên) thì đạo Nho trở thành quốc giáo. Khổng Tử (sinh năm 551 trước Công nguyên, thọ 73 tuổi), người được xem là sáng lập ra Nho giáo được tôn lên bực thánh, trở thành Vạn thế sư biểu (người thầy của muôn đời). 

Điều cốt lõi của Khổng giáo là lý thuyết về người quân tử, tức kẻ cai trị đất nước (quân là cai trị, quân tử là người cai trị). Theo Khổng Tử thì người quân tử phải biết tu thân, phải có đạo đức và biết thi, thư, lễ, nhạc… Tu thân rồi, người quân tử phải dấn thân hành động: tề gia, trị quốc, bình thiên hạ! Người quân tử phải chính danh để cai trị đất nước. Các triều đại phong kiến sau này đều triệt để khai thác Khổng giáo, họ biến đổi, “gia cố” Nho giáo thành một triết thuyết cực đoan có lợi cho giai cấp thống trị. Chữ đạo của Khổng Tử là những mối quan hệ phải có trong xã hội thời đó như đạo vua-tôi, cha-con, chồng-vợ, anh-em, bạn hữu… sau này chỉ còn ba quan hệ vua-tôi, cha-con, chồng-vợ với cái logic phản động và phản dân chủ nhất: quân sử thần tử, thần bất tử bất trung (vua bảo chết, thần không chết là bất trung); phụ sử tử vong, tử bất vong bất hiếu (cha bảo con chết, con không chết là bất hiếu); với phụ nữ thì: tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử (ở nhà thì phải theo cha, lấy chồng thì phải theo chồng, chồng chết phải theo con). 

Trong chế độ phong kiến, nhân dân đã tiếp thu những “đạo lý” đó như người khát nước uống thuốc độc để giải khát. Chế độ phong kiến tàn bạo và thối nát ở Trung Quốc đã nhờ triết thuyết của Khổng giáo mà tồn tại và kéo dài cho đến cách mạng Tân Hợi 1911. 

Vì thế, nhà văn hoá Nguyễn Khắc Viện (1913-1997) đã phê phán Nho giáo một cách triệt để: “Trên phương diện chính trị, Nho giáo chủ yếu là bảo thủ. Nó bỏ qua vấn đề pháp luật và thiết chế, từ chối mọi cải cách… Bảo vệ lễ nghi của các triều đại xưa là mối quan tâm hàng đầu của Khổng Tử. Trong chữ lễ, vương triều Trung Hoa cũng như Việt Nam đã tìm thấy biện pháp tốt nhất để duy trì sự ổn định của ngai vàng (Bàn về đạo Nho – nguyên văn tiếng Pháp đăng trên tạp chí La Pensée số 10-1962 với đề là Confucianisme et Marxisme au Vietnam. Dịch sang tiếng Việt, in trong Bàn về Đạo Nho – 1993). 

Với Khổng giáo, vua là Thiên tử (con Trời), thay Trời cai trị muôn dân. Vua với nước là một. Yêu nước là trung với Vua (trung quân ái quốc). 

Điều nguy hiểm nhất của triết thuyết Khổng Tử là: Người quân tử nhờ tu thân mà có vai trò cai trị, nhưng khi quân tử – tức kẻ cai trị – không tu thân, trở thành những hôn quân bạo chúa thì dân chúng vẫn phải cam chịu, không được làm cách mạng lật đổ chúng. Vì thế Nguyễn Khắc Viện mới viết: Khổng Tử từ chối mọi cải cách!

Trong xã hội Khổng giáo mấy ngàn năm ở Trung Quốc, kẻ sĩ đi học là mong được làm quan. Làm quan để được quỳ lạy dưới ngai vàng. Cáivăn hoá quỳ lạy ấy đã kìm hãm nước Trung Hoa trong vòng tăm tối mấy ngàn năm. Trong nền văn hoá quỳ lạy ấy, chỉ có kẻ trên đúng. Chỉ có vua đúng. Vua bảo chết là phải chết. Cha bảo chết thì con phải chết. Tóm lại là không có chân lý. Hay nói khác đi, không ai đi tìm chân lý cả. Chân lý đã có sẵn ở kẻ bề trên, ở triều đại chính thống, bất kể nó thế nào!

Điều trớ trêu là văn hoá quỳ lạy ấy còn tồn tại đến hôm nay ở nước Trung Hoa cộng sản. Tướng Lưu Á Châu, một nhà bình luận nổi tiếng ở Trung Quốc hiện nay kể rằng, khi ông đi học một lớp chính trị trong quân đội, thấy thầy giảng chướng quá, ông đứng lên thắc mắc. Ông thầy liền nói: Tại sao anh dám cãi lại tôi? Tướng Lưu Á Châu thất vọng, vì thầy đã không dám hỏi: “Vì sao anh lại nói như thế?”, rồi tranh luận để tìm ra chân lý. Thầy chỉ phán: “Vì sao anh dám cãi lại tôi?!”. Thầy luôn đúng. Trò không được cãi. 

Nước Trung Hoa cộng sản hôm nay vẫn nguyên hình là một xã hội Khổng Mạnh trá hình mà thôi!

Trong khi đó thì ở phương Tây, cùng thời với Khổng Tử, Aristote (384-332 trước CN) đã tuyên bố: “Platon là thầy tôi, nhưng chân lý còn quý hơn thầy!”. Cái văn hoá chân lý quý hơn thầy ấy đã dẫn dắt phương Tây trở thành một xã hội dân chủ và văn minh đến ngày hôm nay.

Việt Nam chúng ta từng một ngàn năm Bắc thuộc, lại luôn chịu ảnh hưởng của người láng giềng hủ bại Trung Hoa, nên tầng lớp có học của nước ta thấm đẫm thứ văn hoá quỳ lạy của Trung Hoa. Trí thức nước ta trong mấy ngàn năm lịch sử chỉ lo dùi mài kinh sử để mong đỗ đạt làm quan, để được quỳ lạy trước sân rồng. Có người già rồi còn đi thi, suốt đời ăn bám vợ con. Việc làm ra của cải vật chất đều do người phụ nữ và những người ít chữ gánh vác. Trí thức Việt Nam trong quá khứ không ai học để làm cách mạng, để thay đổi đất nước. Hình ảnh con trâu đi trước, cái cày theo sau còn tồn tại đến hôm nay ở nông thôn miền Bắc là kết quả của tư duy làm quan, tư duy quỳ lạy. Báo chí của Việt Nam hôm nay hay ca ngợi một bà mẹ đi bán hàng rong mà nuôi được bốn năm người con học đại học. Học để mong kiếm một mảnh bằng vênh vang với làng xóm! Học để mong kiếm một cái chân trong cơ quan nhà nước, để trở thành một anh công chức, một anh nha lại, trên bảo dưới phải nghe. 

Khi bàn về việc trọng dụng đội ngũ trí thức, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có lần nói, đại ý, xung quanh thủ tướng toàn là những người có bằng cấp cao, thạc sĩ, tiến sĩ… toàn là trí thức!
Thực ra các vị đó chỉ là những công chức, không phải trí thức. Mà đã là công chức thì trên bảo gì dưới phải nghe theo. Nếu không nghe thì “văng” ra khỏi bộ máy quyền lực ngay lập tức. Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện lúc bình sinh có nói với người viết bài này: “Tư bản Pháp chỉ tuyển chọn vào bộ máy những người đỗ đạt cao. Vì thế, khi vào một cơ quan công quyền, người ta biết rõ những người ngồi đó đều là người tài giỏi, vì thế, họ vừa có quyền, lại vừa có uy. Thế mới gọi là uy quyền. Nhưng quyền uy mấy thì cũng là công chức. Nhân dân Pháp chỉ kính trọng những trí thức tự do, vì họ dám phản biện xã hội, bảo vệ lẽ phải. Nước Pháp có hàng trăm nghìn hội đoàn độc lập. Đó là một lực lượng dân chủ hùng mạnh để cân bằng với chính quyền của giai cấp tư bản

Buồn thay, bộ máy công quyền của Việt Nam hôm nay chỉ tuyển chọn những người “dễ bảo” hoặc biết “mua bán”. Vì thế nó ngày càng xuống cấp. Có lần, trong một cuộc gặp gỡ có nguyên Bộ trưởng L.H.N., phó giáo sư tiến sĩ V.T.K. và người viết bài này, trong lúc vui vẻ, phó giáo sư V.T.K. than phiền với Bộ trưởng L.H.N.: Mấy tay vụ trưởng đi theo anh chuyến này vô Nam, qua nói chuyện tôi thấy các vị đó dốt quá! Nguyên Bộ trưởng L.H.N. nói: Ngày xưa dốt là từ cấp thứ trưởng trở lên, cấp vụ nó giỏi lắm, nay nó dốt xuống đến cấp vụ rồi!!!

Từ nền văn hoá làm quan, văn hoá quỳ lạy, đã hình thành một tâm lý xin-cho trong xã hội. Khi nhóm Cánh Buồm của nhà giáo Phạm Toàn soạn thảo bộ sách Học tiếng Việt cho học sinh lớp 1 theo hướng cải cách giáo dục, tôi đến chơi một người bạn cũ từng là một quan chức cao cấp, từng ở nước ngoài nhiều năm, có học thức cao… và tặng ông một trong các cuốn sách Học tiếng Việt đó. Cầm sách trong tay, ông nói ngay: Họ không cho lưu hành đâu anh ạ! Thì ra cái tâm lý xin-cho đã ngấm vào xương tuỷ giới trí thức nước ta. Trên phải cho thì dưới mới được làm! Dù chưa ai cấm đoán bao giờ!

Ít lâu sau, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có ý kiến phải đưa Hoàng Sa, Trường Sa vào sách giáo khoa cho học sinh phổ thông học. Thế là tôi viết giới thiệu bài tập đọc “Lễ thả thuyền ra Hoàng Sa…” đã có trong sách Tiếng Việt lớp 1 của nhóm Cánh Buồm. Báo Người Lao động TP HCM đã đăng ngay bài đó trong tháng 1-2014 (vì… Thủ tướng đã… cho… nói về Hoàng Sa và Trường Sa!!!). 

Ngày nay nước ta đã manh nha kinh tế thị trường, có bao nhiêu điều kiện và cơ hội để học làm người tự do, làm khoa học, làm chuyên môn, làm nghề… làm ra của cải cho một đất nước “đói nghèo trong rơm rạ” (Chế Lan Viên) thì trí thức nước ta cần mau chóng giã từ nền văn hoá làm quan, văn hoá quỳ lạy có cội nguồn từ văn hoá Khổng Mạnh Trung Hoa để canh tân đất nước. 

Để kết thúc bài viết này, tôi xin kể một câu chuyện về giáo sư Nguyễn Đăng Hưng, ông sinh năm 1941 tại xã Điện Thắng Bắc huyện Điện Bàn tỉnh Quảng Nam. Hiện ông là một Việt kiều ở Bỉ, hoạt động trong lĩnh vực khoa học không gian. Ông là một nhà khoa học rất nổi tiếng, là “một trong 10 người làm thay đổi nước Bỉ” như cách nói của chính phủ Bỉ. Ông giảng dạy ở bậc đại học đã nhiều năm, từng là trưởng Khoa Cơ học phá huỷ thuộc Khoa Kỹ thuật không gian Đại học Liège. Một ngày kia, đồng nghiệp của ông “phát hiện” ra ông chỉ có bằng kỹ sư, chưa có bằng tiến sĩ như bao đồng nghiệp khác đang làm việc cùng ông. Người ta đề nghị giáo sư Nguyễn Đăng Hưng làm hồ sơ để thi tiến sĩ. Khi giáo sư Hưng tập hợp các công trình mình đã làm và đã được ứng dụng trong sản xuất để trình Hội đồng, chuẩn bị cho luận án tiến sĩ sẽ làm, thì Hội đồng nhất trí cao rằng ông xứng đáng là tiến sĩ từ lâu rồi, khỏi cần thi! Tại một quán càfê ở đường Phạm Ngọc Thạch Quận 1 TP HCM cuối năm 2013 vừa qua, giáo sư Hưng tâm sự với chúng tôi: Mãi làm việc quá nên tôi… quên làm tiến sĩ.

Bao giờ cái văn hoá học để làm việc thay thế được văn hoá làm quanvăn hoá quỳ lạy trong giới tinh hoa ở nước ta, thì Việt Nam mới mở mày mở mặt được.

Tháng 6-2014
L. P. K.

Nguồn : Quechoa.blog

Thứ Ba, ngày 13 tháng 5 năm 2014

Tử vi tản mạn

Tử vi tản mạn.
Năm nay là năm Giáp Ngọ, bất cứ ai biết an sao trên lá số tử vi đều biết an 9 sao lưu động gồm có Thái tuế, Thiên mã, Tang môn, Thiên khốc, Thiên hư, Lộc tồn, Bạch hổ, Đà la, Kình Dương. Để phân biệt sao chính và sao di động ta viết chử Lưu Thái tuế ( L . Thái tuế ) . v . v ...
Như vậy bất cứ ai cũng vậy, lá số người nào cũng vậy, điểm đặc biệt trong năm Giáp Ngọ này L Thiên mã gặp L Tang môn. Thiên mã gặp Tang môn
Thiên mã tượng trưng cho tài năng mỗi người, cho phương tiện di chuyển như ô tô, máy bay, xe máy, phà...
Tang môn là một trong 6 lục bại tinh trong tử vi
Thiên mã gặp Tang môn là không hay rồi. Bất cứ lá số nào năm nay tại cung Thân sẽ an hai vì sao lưu Thiên mã gặp Tang môn. Phải chăng cổ nhân đã cảnh báo trước, nhất là những nước nằm trong văn minh Đông Phương như Trung quốc, Hàn Quốc, Malaixia, Việt nam năm nay nỗi bật tai họa liên quan đến phương tiện di chuyển của loài người.
Số phận của mỗi cá nhân sẽ ảnh hưởng đến số phận của Quốc gia và ngược lại, đó là quy luật biện chứng
Đầu tiên là máy bay Malaiyxia mất tích Sau khi cất cánh khỏi thành phố Kuala Lumpur, chiếc máy bay Malaysia chở 227 hành khách cùng 12 thành viên phi hành đoàn của hãng hàng không Malaysian Airlines đã mất tích.

Vụ chìm phà của Hàn Quốc. hiếc phà khổng lồ chở 474 hành khách bất ngờ bị đắm ngoài khơi biển Hoàng Hải, khiến ít nhất 4 người chết và khoảng 290 người bị mất tích.

Bây giờ tiếp đến là Giàn khoan di động của Trung Quốc trên biển đông .
    Trung Quốc tìm mọi cách cản trở các tàu thực thi pháp luật Việt Nam tới gần khu vực giàn khoan Hải Dương 981 (HD981) khiến nhiều người thắc mắc: Giàn khoan đã khoan chưa?

Vài dòng suy gẫm ? !

Như vậy ai trong chúng ta mà không phải di chuyển khi sống trong thời đại hiện nay. Vậy cho nên chúng ta trong năm nay cần cảnh giác cao độ hơn. Nhớ lại lời thơ của thi hào Nguyễn Du :
Có trời mà cũng tại ta
Tu là cõi phúc tình là giây oan.

Nói theo Ông già Alan : Xứ Lạ Ngày Lạ http://www.gocnhinal...la-ngay-la.html
Mong các bạn nhiều may mắn. Chúng ta rất cần sự phù hộ của Ơn Trên trong lúc này.

Thứ Hai, ngày 05 tháng 5 năm 2014

Di chúc của Vua Trần Nhân Tôn


"Các người chớ quên, chính nước lớn mới làm những điều bậy bạ, trái đạo. Vì rằng họ cho mình cái quyền nói một đường làm một nẻo. Cho nên cái họa lâu đời của ta là họa Trung Hoa.

Chớ coi thường chuyện vụn vặt xảy ra trên biên ải. Các việc trên, khiến ta nghĩ tới chuyện khác lớn hơn. Tức là họ không tôn trọng biên giới quy ước. Cứ luôn luôn đặt ra những cái cớ để tranh chấp. Không thôn tính được ta, thì gậm nhấm ta. Họ gậm nhấm đất đai của ta, lâu dần họ sẽ biến giang san của ta từ cái tổ đại bàng thành cái tổ chim chích. Vậy nên các người phải nhớ lời ta dặn:


"Một tấc đất của tiền nhân để lại, cũng không được để lọt vào tay kẻ khác".

Ta cũng để lời nhắn nhủ đó như một lời di chúc cho muôn đời con cháu".


Nguồn : vodanhthiendia

Thứ Ba, ngày 15 tháng 4 năm 2014

Chân lý không thuộc về số đông

Chân lý không thuộc về số đông

Chân lý không thuộc về số đông, chân lý là chân lý .  Để có được cuộc sống và khoa học phát triển như ngày nay biết bao nhiêu là người đã gầy dựng nên. Khi thuyết địa tâm còn thống trị, chỉ có Giorrdano Bruno tìm ra và chứng minh được trái đất quay quanh mặt trời.
Chỉ có Isaac Newton mới đặt câu hỏi tại sao trái táo lại rụng xuống đất chứ không rơi theo kiểu khác và ông đã tìm ra định luật vạn vật hấp dẫn. Trong quá trình khám phá, phát triển của khoa học có những bài toán đặt ra và không đúng với định luật vạn vật hấp dẫn hay dùng định luật vạn vật hấp dẫn không giải thích thấu đáo được và nhà bác học Einstein tìm ra thuyết tương đối…
Như vậy khoa học xã hội và khoa học tự nhiên muốn phát triển được cần có không khí tự do và dân chủ.. Nghĩa là có thể tìm hiểu nhiều khuynh hướng không bị ràng buộc bởi tư duy giáo điều, bởi định hướng gì gì đó….
Chính với suy nghĩ như trên xin giới thiệu với các bạn :

Luận văn Nhã Thuyên : tiếng nói của một số người trong cuộc



Tiến sĩ Chu Văn Sơn : Tôi cho rằng một nền văn học bình thường là nền văn học phải tạo được sân chơi cởi mở cho nhiều khuynh hướng sáng tạo, nhiều trường phái, nhiều nhóm sáng tạo cùng nảy nở. Và mọi khuynh hướng, mọi trường phái, mọi nhóm ấy có quyền tồn tại bình đẳng. Còn giá trị mà mỗi khuynh hướng, mỗi nhóm ấy tạo ra hay dở thế nào, sẽ tùy thuộc vào sự đánh giá của công chúng nghệ thuật và sự sàng lọc của thời gian.

Luận văn Nhã Thuyên : tiếng nói của một số người trong cuộc

Nguyễn Hiếu Quân thực hiện

Luận văn Thạc sĩ “Vị trí kẻ bên lề: Thực hành thơ của nhóm Mở Miệng từ góc nhìn văn hóa” của Đỗ Thị Thoan (dưới đây gọi tắt theo tên phổ biến hơn là Luận văn Nhã Thuyên – LVNT) đang được dư luận quan tâm đặc biệt, nhất là khi Luận văn này được một Hội đồng thẩm định lại và sau đó Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (ĐHSP HN) ra quyết định số 667/QĐ-ĐH SP HN không công nhận Luận văn này. Nhận thấy sự kiện LVNT có nhiều vấn đề cần được làm sáng tỏ, chúng tôi đã có cuộc phỏng vấn với một số người trong cuộc, bao gồm: PGS.TS Nguyễn Thị Bình (Khoa Ngữ Văn, ĐHSP HN) – giáo viên hướng dẫn khoa học luận văn; và hai thành viên trong vai trò phản biện thuộc Hội đồng chấm LVNT: PGS.TS Ngô Văn Giá (Đại học Văn hóa HN), TS. Chu Văn Sơn (Khoa Ngữ Văn, ĐHSP HN). Cuộc phỏng vấn này, như độc giả thấy, có thể coi là sự lên tiếng chính thức đầu tiên trước công luận, điều vốn rất được nhiều người chờ đợi, của những người không chỉ liên quan, hiểu rõ LVNT mà còn có tri kiến nhất định về đời sống văn học, văn hóa, giáo dục Việt Nam hiện nay. Chúng tôi trân trọng cảm ơn sự hợp tác chân thành, nghiêm túc của các ông/bà có tên trên và đồng thời, hi vọng độc giả đón nhận bài phỏng vấn này trong tinh thần đối thoại thấu đáo, đẹp đẽ.

Trước khi theo dõi cuộc phỏng vấn, để có thông tin bao quát, xin được nhắc lại một số diễn biến xoay quanh LVNT:
– Đỗ Thị Thoan, bút danh Nhã Thuyên, sinh năm 1986, tốt nghiệp Khoa Ngữ Văn – ĐHSP HN năm 2007, học Cao học (Thạc sĩ) chuyên ngành Văn học Việt Nam hiện đại tại Khoa Ngữ Văn – ĐHSP HN khóa 18 (2009 – 2010)
– Ngày 2/12/2010, Trường ĐHSP HN ra Quyết định số 7460/QĐ – ĐHSP HN về việc thành lập Hội đồng chấm luận văn Thạc sĩ cho học viên Đỗ Thị Thoan. Đề tài: “Vị trí kẻ bên lề: Thực hành thơ của nhóm Mở Miệng từ góc nhìn văn hóa”. Hội đồng chấm gồm:
PGS.TS Nguyễn Văn Long (ĐHSP HN) – Chủ tịch Hội đồng
TS. Chu Văn Sơn (ĐHSP HN): Phản biện
PGS.TS Ngô Văn Giá (ĐH Văn hóa): Phản biện
PGS.TS Nguyễn Đăng Điệp (Viện văn học): Ủy viên
TS. Nguyễn Văn Phượng (ĐHSP HN): Thư kí
Tác giả Luận văn đã bảo vệ thành công đề tài, nhận số điểm tuyệt đối (10/10)
– Tháng 3 năm 2011, Trường ĐHSP HN ra Quyết định số 676/QĐ – ĐHSP HN cấp bằng Thạc sĩ khoa học Ngữ văn cho Đỗ Thị Thoan, số hiệu bằng 7437.
– Cuối tháng 3/2013, bắt đầu xuất hiện một số bài phê bình gay gắt LVNT trên báo chí, bắt đầu với bài của Chu Giang Nguyễn Văn Lưu trên báo Văn nghệ Tp HCM, tiếp đó là loạt bài có chung giọng điệu xuất hiện trên nhiều báo (giấy) khác nhau (trong bối cảnh báo chí Việt Nam, đó là biểu hiện của chính thống). Cùng thời điểm, cũng có một số bài tỏ tinh thần bảo vệ LVNT, coi việc đả kích LVNT là biểu hiện của sự thiếu tự do học thuật, của phê bình chỉ điểm, phê bình chỉnh huấn. Loạt bài này chủ yếu đăng tải trên diễn đàn mạng. Từ đây đến hết năm 2013, tạm coi là giai đoạn “tranh luận về LVNT”.