Thứ Bảy, ngày 24 tháng 1 năm 2015

Vài nét về lá số của cụ Nguyễn Hiến Lê

Nguyễn Hiến Lê là một học giả nổi tiếng, xuất thân là kỹ sư công chánh, tự học, tự nghiên cứu, thành tài. Như chính cụ đã ghi lại trong hồi ký. Di sản văn hóa cụ để lại cho dân tộc là chuỗi hạt kim cương lấp lánh, toả ánh sáng cho nhiều thế hệ mai sau.

Nhưng cụ đã thừa nhận là những công trình nghiên cứu, biên khảo nghiêm túc của cụ, tốn rất nhiều trí lực và tâm huyết lại là những công trình ít người biết đến như là Kinh Dịch, Sử ký Tư Mã Thiên..v.v  là những công trình nghiên cứu nhiều về triết học Trung Hoa.

Những cụ nổi tiếng và nổi danh lại là nhờ những quyển sách nhỏ, những quyển sách viết cho giới trẻ trong dòng sách học làm người. Tuy cụ ít tồn công sức hơn nhưng giúp ích rất nhiều cho thế hệ trẻ. Cụ gặp thời vì cụ sống trong lòng xã hội có nhiều tính nhân bản. Một xã hội không quá đề cao bằng cấp mà cần thực tài. Cụ sống trong một xã hội dân chủ có tự do báo chí và tự do ngôn luận. Cụ nổi tiếng vì gặp thời vì có tâm và có tài.

Cung Quan lộc của cụ, cũng là cung biểu hiện nhiều cho nghề nghiệp có cách Tử Phá cư ở cung mùi.
Phú đoán : Mệnh Thân Tử Phá ở cung
Sửu Mùi Thìn Tuất bất trung bất nghì

( theo dịch lý huyền cơ )

Phú đoán : Tử Phá tại mộ cung, bất trung bất hiếu ( cung mệnh an tại tứ mộ có Tử hay Phá toạ thủ là người bất trung bất hiếu ). Đó là theo Vân Đằng Thái Thứ Lang trang 84 quyển Tử Vi đẩu số tân biên.

Ta biết tử vi xuất hiện đầy đủ có hệ thống từ Trần Đoàn lão tổ còn có biệt hiệu là Hy Di tiên sinh. Và theo Vương Đình Chi là Thái Vi Phú được soạn ra từ đời Minh. Nghĩa là thái độ trung quân rất được tôn trọng. Và những người có khuynh hướng nói ngược lại có nghĩa là bất trung

Cụ sống trong nền cộng hoà đệ nhất và đệ nhị ( chính quyền miền nam trước đây ) thuộc về xã hội dân chủ. Ở cụ ngoài tính cách thâm trầm sâu sắc của một con người nho học còn thấm đẫm tính khai phóng, tinh thần của học thuật phương Tây : tôn trọng sự thật, có óc phê phán và tư duy độc lập. Cụ có kể chuyện là nhân viên công quyền lúc ấy nói về cụ :” Đừng động đến ông ấy, ông ấy đập lại cho thì không đỡ được “ ( từ đập ở đây là nói về ngòi bút của cụ ) . Cụ nói là người ấy hiểu nhầm cụ. Cụ không chỉ trích cá nhân, cụ phê phán một chính sách. Nếu ở Việt Nam hiện nay thì sẽ bị coi là phản động. Bị vuớng vào điều luật 258 hoặc 88….Ở những quốc gia văn minh và dân chủ những người trí thức như cụ đặt mình vào vị trí quan trọng hơn vị trí nắm quyền lãnh đạo : đó là công dân có quyền giám sát chính trị. Phân tích ủng hộ hoặc phê phán các chính sách để phục vụ người dân. Với cung quan như vậy trong chế độ đa nguyên dân chủ thì khả năng cụ ở phái đối lập phản biện rất là cao.

Cung Quan của cụ còn có Ân Quang và Thiên quý cư ở cung mùi
Phú đoán : Quý Ân mùi sửu hạn cầu
Đường mây thẳng bước cao sâu cửu trùng

Ân Quang, Thiên quý đắc cách ở mùi là biểu hiện cho đức tuệ sáng suốt, phúc thiện đầy ắp
Cung Quan còn được hưởng cách tứ linh ( Quan có Hoa cái, Bạch hổ ) tam hợp gặp Long trì ở Mẹo và Phượng cát ở hợi chiếu về

Phú đoán : Tứ Linh Cái Hổ Phượng Long
Công danh quyền thế vẫy vùng một khi

Nhưng cung quan còn bước lên một cách cao hơn, đã gấm lại còn thêm hoa. Như một người bạn của cụ đã nhận định về lá số của cụ : Cung quan còn được cách “ Tứ Linh hội Phi Liêm thanh danh viễn chấn “

Cụ mất đã lâu nhưng những quyển sách của cụ còn bao nhiêu người tìm đọc. Đúng là thanh danh viễn chấn. Khi cụ đã trở về cát bụi thì những chương sách cụ viết vẫn còn làm cho một ai đó run sợ : CHƯƠNG XXI, XXII, và XXIV ( ba chương này xin để lại sau một thời gian nữa…)  NXB . Đó là nguyên văn trang 363 của hồi ký Nguyễn Hiến Lê của NXB Văn học bản in năm 1993. Chờ đến bao giờ ?

Cung Quan còn được cách Lưỡng long là Thanh long gặp long trì ở mệnh chiếu về

Ta thấy đại hạn 43 – 52 của cụ nằm ở cung hợi. Tuy đắc thái tuế nhưng có phục binh hiềm sẵn :

Phú đoán : Liêm Tham tỵ hợi ngục tù
 Nhưng cụ không bị ngục tù, đọc đến đây các bạn hiểu tại sao rồi. Vì cụ gặp thời, cụ sống trong một xã hội dân chủ, một xã hội có tính cách khai phóng

Tử vi rất đúng, nhưng tử vi xuất hiện trong chế độ trung quân coi trọng, vua là con trời nên ít nhiều tử vi cũng bị ảnh hưởng. Là người thích nghiên cứu về tử vi đẩu số chúng ta đừng câu nệ quá về tiểu tiết mà nên soi rọi trên nhiều góc cạnh.

Trong pháp hoa kinh phẩm Pháp sư công đức mà nữ cư sĩ Từ Hoa Nhất Tuệ Tâm chuyển về thi có đoạn :

Như hằng sa Phật quốc cõi trời Đông 
Ai lường được pháp môn vô lượng nghĩa.
Văn tự Pháp Hoa - lời là phương tiện 
Kẻ tri âm đạt lý bỏ quên lời 

Chúng ta nghiên cứu tử vi cũng vậy thôi. Cố gắng đạt đến cái lý của nó, đó cũng là châm ngôn của tôi

                                                   

Thứ Tư, ngày 07 tháng 1 năm 2015

Khoảng lặng thầm !

Khoảng lặng thầm !

 

 

Trời gió mưa và lạnh, một ngày mùa đông tôi gặp lại người anh quen biết cũ. Hỏi thăm mới biết anh H đã mất vì bệnh ung thư. Thế là xong một kiếp người, chợt thấy cuộc đời này phù du quá đỗi. Số phận người mong manh như sương khói.

Anh H tôi mới biết cách đây vài tháng. Chỉ tình cờ biết nhau vì tôi có nhu cầu sữa nhà mà anh ta là chủ thầu xây dựng. Và qua giới thiệu tôi gặp được anh ta.

Anh H mất làm tôi cảm thấy hụt hẫng dù chỉ mới biết nhau. Anh chết khi vừa mới chạm tuổi 51, một cái chết phi lý với muôn ngàn cái chết như thế. Tại sao thế hệ chúng ta tuổi thọ lại quá kém so với thế hệ cha ông ngày trước mà hầu hết ra đi là do ung thư, đột quỵ . v.v…

Ừ ! thì môi trường ô nhiễm. Ừ ! thì ăn toàn hóa chất độc hại. Thức ăn, gạo, trái cây, thịt, trứng..v.v…gần như chẳng có gì là an toàn cả. Thậm chí một tủ bán bánh mỳ, bán cháo nếu muốn tồn tại cần phải có giấy phép, nếu không sẽ bị phạt. Cái gì cũng quản lý nhưng càng ngày càng tệ !

Đừng đổ thừa cho khoa học kỹ thuật. Đừng đổ thừa cho lòng tham lam vô bờ bến của con người. Tại sao ở những nước phương Tây văn minh với số lượng nhân viên công quyền ít hơn chúng ta nhiều mà quản lý xã hội rất tốt.

Mỗi một người giữ cho mình yên phận không dám lên tiếng nói bảo vệ sự thật. Không dám lên tiếng về cái ác, cái vô lý, cái phương thức quản lý không hiệu quả là tự mình đầu độc mình. Hủy diệt cả tương lại của con cháu ngày sau !


Tản mạn chuyện đời

Tản mạn chuyện đời

Tôi chưa gặp được người anh trai ấy
Đất Quảng Bình chưa đến để mà thương
Chưa biết anh chống nạng lại ra đường
Thân già lão, tâm hồn chống giông bão

Trời phương Bắc, mây mù che kín lối
Giải trời Nam, Bách Việt vẫn còn đây
Tâm quỹ dữ dựa theo dòng thức hệ
Tấm lòng son gìn giữ nước non này

Một chiếc thuyền, đơn độc trên biển cả
Giã phồn hoa, giã đình đám hội đoàn
Tiếng tiền nhân người xưa còn vang vọng
Dân khí hưng, đất nước báo xuân sang ( 1 )

Ký ức vụn ! ừ chỉ là ký ức ( 2 )
Rất đơn sơ mà ẩn chứa bao điều
Thổi bay đi những hào quang giả tạo
Nghe nghẹn lòng những năm tháng đi theo

Anh tỉnh thức, chọn hành trình đơn độc
Khẩu táo văn, tiếu táo kể chuyện đời
Làm con thuyền dám chở chuyên sự thật
Rất nhiều giọng chỉ sự thật mà thôi

Như Đanko móc trái tim ra khỏi ngực ( 3 )
Ngọn đuốc soi chỉ lối biết bao người
Dân làng kia tìm được miền đất hứa
Thì âm thầm anh ngã xuống than ôi !

Ai không theo ta thì chống ta
Tính cách quỷ thì thời nào cũng vậy
Anh dư biết, anh cũng thừa hiểu vậy
Thắp đuốc lên soi sáng cõi âm u

Trời quê hương đang ở cõi sa mù
Trải chiếu rượu anh mời người cùng nhắm
Những trăn trở, suy tư sâu thẳm
Bên chén rượu trà buông thả đầy vơi

Chậm rãi buông thong thả đôi lời
“ đời kết thúc khi chúng ta im lặng
Về những điều lẽ ra phải lên tiếng “ ( 4 )
Sự thật phơi bày, tia chớp rạch màn đen

Thắp đuốc lên gọi người mau tỉnh thức
Rải mưa thiên gội bụi bặm lọc lừa
Mỗi mỗi việc có góc nhìn đa diện
Mỗi mỗi người có tiếng nói tự do
Những ngày cuối năm 2014



( 1 ) “ Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh “ lời của cụ Phan Chu Trinh
( 2 ) Ký ức vụn : tạp văn của Nguyễn Quang Lập
( 3 ) “Trái tim Đankô” là một phần trong kiệt tác “Bà lão Idécghin” của đại văn hào Nga Mác-xim Gorki.
( 4 ) Hiệu Minh đã trích lời Luther King  “Our lives begin to end the day we become silent about things that matter – Cuộc đời của chúng ta bắt đầu kết thúc khi chúng ta im lặng về những điều lẽ ra phải lên tiếng





































Thứ Hai, ngày 24 tháng 11 năm 2014

Đi tìm lá số Lưu Quang Vũ



Đi tìm lá số Lưu Quang Vũ

Đời sống là bờ
Nhưng giấc mơ là biển
Bờ không còn nếu chẳng có khơi xa
Lưu Quang Vũ

Nói đến Lưu Quang Vũ là nói đến một hiện tượng, một nhà thơ, một nhà biên kịch tài năng. Một tài năng sáng chói rồi vụt tắt đi trên đất Việt. Cái chết của anh là một tổn thất lớn cho văn hóa Việt. Và có khá nhiều nghi vấn qua tai nạn này
Chẳng hạn như có nguồn dư luận anh chết vì dám nói, qua những vở kịch anh viết đã phá vào tận trong cùng sâu thẳm của sự mất nhân cách, sự biến thái của tình người. …mà những cái đó là do đâu ? .
Theo hồi ức của bà Lưu Quang Thuận ( tức Vũ Thị Khánh ) mẹ của Lưu Quang Vũ trích trong trang 9 của tập thơ Lưu Quang Vũ thơ và đời của NXB Văn hóa – Thông tin in năm 1999 thì Vũ ra đời vào buổi trưa ngày nắng đẹp năm Mậu tí ( 17 – 04 – 1948 ) . Với những người say mê môn tử vi, chúng ta cùng nhau thử đi tìm lá số của ông

Chủ nhật vừa rồi 23 -11 -2014 để tưởng nhớ đến Lưu Quang Vũ, báo Thanh niên có bài viết Thăm thẳm phận người  của TÂN LINH khá hay. Nhưng cái thăm thẳm phận người qua những vở kịch của Lưu Quang Vũ trong một xã hội toàn trị thì tác giả không nói đến nhưng Lưu Quang Vũ đã nói …..

Lá số Lưu Quang Vũ :


Sau đây là luận của Hoa Cái :
Luận giải của Hoa cái
Sinh ngày 17 tháng 4 DL, 1948 giờ Ngọ
Chết ngày 29 tháng 8 DL, 1988
Đúng số .
Mệnh bị Kình Đà uy hiếp . Vợ bị Hoả, chồng bị Linh làm đoản thọ . Cung Con bị Hình Riêu .cùng nhiều sát tinh hội chiếu .
DH gặp Hình Riêu (thế giáp góc) tức tai nạn dính chùm . Cung Thê liên đới vì xung với DH có Tang Hổ Hoả Kình .
Năm 1988, 2 Kình 2 Đà giáp công Mệnh và DH . Toàn bộ Lục Hại có sẳn nay được gia sức, tấn đánh ca'c cường cung trong đó có DH .
Có thể nào gia đình họ Lưu bị mưu sát (1) vì lý do chính trị giống như tướng 4 sao bị đám họ Lê ra tay ? (2)
Theo thiễn nghĩ dựa trên lá số thì đây là tai nạn tình cơ !

Dưới đây là bài viết của TÂN LINH

Nhà viết kịch nổi tiếng Lưu Quang Vũ về miền cát bụi đã gần một phần tư thế kỷ. Thời gian qua, bỗng dưng kịch của anh trở lại, được dựng liên tiếp, diễn ngoài bắc trong nam, kéo công chúng lũ lượt vào rạp. Đó chính là giá trị dài lâu của nghệ thuật.

Có một thời Lưu Quang Vũ “bùng nổ” ghê gớm. Anh viết trong vòng mấy năm mà đến dăm chục vở kịch lớn. Nhiều vở cùng lúc 7 - 8 đoàn dựng. Có vở như Hồn Trương Ba da hàng thịt được các đoàn đưa đi diễn ở nước ngoài, tại Nga tại Mỹ gây tiếng vang lừng lẫy. Những Sống mãi tuổi 17, Tôi và chúng ta, Ông không phải là bố tôi, Lời thề thứ 9… được dựng diễn từ nam chí bắc. Nhiều vở tôi xem đi xem lại mấy lần mà lần nào cũng thấy khán giả xúc động lau nước mắt.
Nhưng cái phận người thăm thẳm. Nào ai biết nó nông sâu. Lưu Quang Vũ mất đột ngột trong một tai nạn thảm khốc, cùng với người bạn thơ bạn đời Xuân Quỳnh và cháu Quỳnh Thơ. Không có huân chương nào được tặng, trước và sau sự ra đi ấy. Chỉ đến khi tác giả đã khuất xa, với độ lùi thời gian khá dài, một giải thưởng nhà nước được truy tặng. Sự muộn mằn ấy chỉ để làm thanh thản ai đó, trong số những người còn sống ở trên đời?
Sức mạnh qua kịch của Vũ đã an ủi và vực dậy bao nhiêu số phận, linh hồn tội nghiệp. Trong mắt dân chúng và người yêu nghệ thuật, Vũ nổi lên như một người hùng. Nhưng đúng là cái phận người. Còn nhớ, đến khi gia đình và nhiều tổ chức, cơ quan muốn đưa thi hài anh vào quàn nhà lạnh Bệnh viện Việt Xô, hoặc bạn bè muốn quàn anh ở ngôi nhà chung của văn nghệ sĩ tại 51 Trần Hưng Đạo (Hà Nội) thật không dễ bởi sự cứng nhắc về “tiêu chuẩn” và cả sự vô cảm lạnh lùng... Phải chạy vạy, phải cần đến sự ra tay của bạn bè, cả khi đưa về an táng ở nghĩa trang Văn Điển... Chao ôi! Làm cái kiếp người trong thăm thẳm đoạn trường, hình như thân phận nào cũng có bi kịch. Sự mất mát nào mà chả buồn. Lại có cả những sự buồn ngoài những mất mát.
Nhưng được - mất, đối với người đã khuất cũng chẳng để làm gì. Ôi chao! Phận người thăm thẳm.  

Thăm thẳm phận người

Thứ Năm, ngày 23 tháng 10 năm 2014

Nhân duyên - cuộc đời sòng phẳng

Trong Kinh Pháp Hoa ở trong phẩm Ngũ bá đệ tử thọ ký và thọ học vô học nhơn ký được chuyển về thi của cư sĩ Từ Hoa Nhất Tuệ Tâm có đoạn :
Mãn-Từ-Tử, bậc biện tài đệ nhất 
Lắng nghe từ kim khẩu Đức Như Lai 
Nhân duyên kia muôn kiếp cũng là đây
Tự mình tạo rồi tự mình thọ nhận..


Nhà phiên dịch, nhà giáo Thái Bá Tân đã chuyển ý kia thành thơ 5 chữ rất hay :
.....

Lần nữa xin nhắc lại
Lời dạy của Thích Ca:
Sai đúng hay tốt xấu
Đều phụ thuộc vào ta.

Anh không thể nói dối
Mà thành người chân thành.
Càng không thể làm ác
Mà nhận được điều lành.

Anh không thể lười biếng
Mà tiền bạc đầy nhà.
Không thể ngại đọc sách
Mà kiến thức sâu xa.

Nhân nào thì quả ấy
Là chân lý xưa nay.
Vậy mong các bác trẻ 
Luôn ghi nhớ điều này.

Thứ Tư, ngày 23 tháng 7 năm 2014

TẢN MẠN CHUYỆN ĐỜI - NGẪM VÀ NGHĨ

TẢN MẠN CHUYỆN ĐỜI - NGẪM VÀ NGHĨ

Dạo chơi trên mạng gặp chị Hậu Khảo Cổ. Chợt nhớ đến cụ Vương cổ ngoạn tức cụ Vương Hồng Sển. Chết đi di chúc cụ để lại cụ hiến tặng Bảo Tàng Vương Hồng Sển cho nhà nước không biết bây giờ cái bảo tàng ấy ra sao ?
Chợt nhớ lại cụ dẫn ra một câu ngạn ngữ của Pháp với nguyên văn nhưng mình không biết tiếng Pháp nhưng cụ dịch ra tiếng Việt không hiểu sao bây giờ bất chợt mình lại nhớ :
Hãy tôn thờ những gì ngươi đã đốt và hãy đốt những gì ngươi tôn thờ

Chợt liên tưởng đến một câu danh ngôn hay phương ngôn của ai mình cũng không rõ :

" Nếu anh bắn vào quá khứ bằng súng lục thì tương lại sẽ bắn anh bằng đại bác "

ngẫm nghĩ chuyện thời nay .....

Chủ Nhật, ngày 22 tháng 6 năm 2014

Thoát Trung:Giã từ nền văn hoá quỳ lạy

Lê Phú Khải
Có lần, Hán Cao Tổ Lưu Bang (202 trước Công nguyên) nói với Lục Giả: “Ta ngồi trên lưng ngựa mà có được thiên hạ thì cần gì phải học Thi, Thư…”. Nhưng rồi Hán Cao Tổ cũng nghe lời khuyên của Lục Giả trọng dụng kẻ sĩ, đề cao Nho giáo để củng cố ngai vàng.


 Đến đời Hán Vũ Đế (140 trước Công nguyên) thì đạo Nho trở thành quốc giáo. Khổng Tử (sinh năm 551 trước Công nguyên, thọ 73 tuổi), người được xem là sáng lập ra Nho giáo được tôn lên bực thánh, trở thành Vạn thế sư biểu (người thầy của muôn đời). 

Điều cốt lõi của Khổng giáo là lý thuyết về người quân tử, tức kẻ cai trị đất nước (quân là cai trị, quân tử là người cai trị). Theo Khổng Tử thì người quân tử phải biết tu thân, phải có đạo đức và biết thi, thư, lễ, nhạc… Tu thân rồi, người quân tử phải dấn thân hành động: tề gia, trị quốc, bình thiên hạ! Người quân tử phải chính danh để cai trị đất nước. Các triều đại phong kiến sau này đều triệt để khai thác Khổng giáo, họ biến đổi, “gia cố” Nho giáo thành một triết thuyết cực đoan có lợi cho giai cấp thống trị. Chữ đạo của Khổng Tử là những mối quan hệ phải có trong xã hội thời đó như đạo vua-tôi, cha-con, chồng-vợ, anh-em, bạn hữu… sau này chỉ còn ba quan hệ vua-tôi, cha-con, chồng-vợ với cái logic phản động và phản dân chủ nhất: quân sử thần tử, thần bất tử bất trung (vua bảo chết, thần không chết là bất trung); phụ sử tử vong, tử bất vong bất hiếu (cha bảo con chết, con không chết là bất hiếu); với phụ nữ thì: tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử (ở nhà thì phải theo cha, lấy chồng thì phải theo chồng, chồng chết phải theo con). 

Trong chế độ phong kiến, nhân dân đã tiếp thu những “đạo lý” đó như người khát nước uống thuốc độc để giải khát. Chế độ phong kiến tàn bạo và thối nát ở Trung Quốc đã nhờ triết thuyết của Khổng giáo mà tồn tại và kéo dài cho đến cách mạng Tân Hợi 1911. 

Vì thế, nhà văn hoá Nguyễn Khắc Viện (1913-1997) đã phê phán Nho giáo một cách triệt để: “Trên phương diện chính trị, Nho giáo chủ yếu là bảo thủ. Nó bỏ qua vấn đề pháp luật và thiết chế, từ chối mọi cải cách… Bảo vệ lễ nghi của các triều đại xưa là mối quan tâm hàng đầu của Khổng Tử. Trong chữ lễ, vương triều Trung Hoa cũng như Việt Nam đã tìm thấy biện pháp tốt nhất để duy trì sự ổn định của ngai vàng (Bàn về đạo Nho – nguyên văn tiếng Pháp đăng trên tạp chí La Pensée số 10-1962 với đề là Confucianisme et Marxisme au Vietnam. Dịch sang tiếng Việt, in trong Bàn về Đạo Nho – 1993). 

Với Khổng giáo, vua là Thiên tử (con Trời), thay Trời cai trị muôn dân. Vua với nước là một. Yêu nước là trung với Vua (trung quân ái quốc). 

Điều nguy hiểm nhất của triết thuyết Khổng Tử là: Người quân tử nhờ tu thân mà có vai trò cai trị, nhưng khi quân tử – tức kẻ cai trị – không tu thân, trở thành những hôn quân bạo chúa thì dân chúng vẫn phải cam chịu, không được làm cách mạng lật đổ chúng. Vì thế Nguyễn Khắc Viện mới viết: Khổng Tử từ chối mọi cải cách!

Trong xã hội Khổng giáo mấy ngàn năm ở Trung Quốc, kẻ sĩ đi học là mong được làm quan. Làm quan để được quỳ lạy dưới ngai vàng. Cáivăn hoá quỳ lạy ấy đã kìm hãm nước Trung Hoa trong vòng tăm tối mấy ngàn năm. Trong nền văn hoá quỳ lạy ấy, chỉ có kẻ trên đúng. Chỉ có vua đúng. Vua bảo chết là phải chết. Cha bảo chết thì con phải chết. Tóm lại là không có chân lý. Hay nói khác đi, không ai đi tìm chân lý cả. Chân lý đã có sẵn ở kẻ bề trên, ở triều đại chính thống, bất kể nó thế nào!

Điều trớ trêu là văn hoá quỳ lạy ấy còn tồn tại đến hôm nay ở nước Trung Hoa cộng sản. Tướng Lưu Á Châu, một nhà bình luận nổi tiếng ở Trung Quốc hiện nay kể rằng, khi ông đi học một lớp chính trị trong quân đội, thấy thầy giảng chướng quá, ông đứng lên thắc mắc. Ông thầy liền nói: Tại sao anh dám cãi lại tôi? Tướng Lưu Á Châu thất vọng, vì thầy đã không dám hỏi: “Vì sao anh lại nói như thế?”, rồi tranh luận để tìm ra chân lý. Thầy chỉ phán: “Vì sao anh dám cãi lại tôi?!”. Thầy luôn đúng. Trò không được cãi. 

Nước Trung Hoa cộng sản hôm nay vẫn nguyên hình là một xã hội Khổng Mạnh trá hình mà thôi!

Trong khi đó thì ở phương Tây, cùng thời với Khổng Tử, Aristote (384-332 trước CN) đã tuyên bố: “Platon là thầy tôi, nhưng chân lý còn quý hơn thầy!”. Cái văn hoá chân lý quý hơn thầy ấy đã dẫn dắt phương Tây trở thành một xã hội dân chủ và văn minh đến ngày hôm nay.

Việt Nam chúng ta từng một ngàn năm Bắc thuộc, lại luôn chịu ảnh hưởng của người láng giềng hủ bại Trung Hoa, nên tầng lớp có học của nước ta thấm đẫm thứ văn hoá quỳ lạy của Trung Hoa. Trí thức nước ta trong mấy ngàn năm lịch sử chỉ lo dùi mài kinh sử để mong đỗ đạt làm quan, để được quỳ lạy trước sân rồng. Có người già rồi còn đi thi, suốt đời ăn bám vợ con. Việc làm ra của cải vật chất đều do người phụ nữ và những người ít chữ gánh vác. Trí thức Việt Nam trong quá khứ không ai học để làm cách mạng, để thay đổi đất nước. Hình ảnh con trâu đi trước, cái cày theo sau còn tồn tại đến hôm nay ở nông thôn miền Bắc là kết quả của tư duy làm quan, tư duy quỳ lạy. Báo chí của Việt Nam hôm nay hay ca ngợi một bà mẹ đi bán hàng rong mà nuôi được bốn năm người con học đại học. Học để mong kiếm một mảnh bằng vênh vang với làng xóm! Học để mong kiếm một cái chân trong cơ quan nhà nước, để trở thành một anh công chức, một anh nha lại, trên bảo dưới phải nghe. 

Khi bàn về việc trọng dụng đội ngũ trí thức, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có lần nói, đại ý, xung quanh thủ tướng toàn là những người có bằng cấp cao, thạc sĩ, tiến sĩ… toàn là trí thức!
Thực ra các vị đó chỉ là những công chức, không phải trí thức. Mà đã là công chức thì trên bảo gì dưới phải nghe theo. Nếu không nghe thì “văng” ra khỏi bộ máy quyền lực ngay lập tức. Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện lúc bình sinh có nói với người viết bài này: “Tư bản Pháp chỉ tuyển chọn vào bộ máy những người đỗ đạt cao. Vì thế, khi vào một cơ quan công quyền, người ta biết rõ những người ngồi đó đều là người tài giỏi, vì thế, họ vừa có quyền, lại vừa có uy. Thế mới gọi là uy quyền. Nhưng quyền uy mấy thì cũng là công chức. Nhân dân Pháp chỉ kính trọng những trí thức tự do, vì họ dám phản biện xã hội, bảo vệ lẽ phải. Nước Pháp có hàng trăm nghìn hội đoàn độc lập. Đó là một lực lượng dân chủ hùng mạnh để cân bằng với chính quyền của giai cấp tư bản

Buồn thay, bộ máy công quyền của Việt Nam hôm nay chỉ tuyển chọn những người “dễ bảo” hoặc biết “mua bán”. Vì thế nó ngày càng xuống cấp. Có lần, trong một cuộc gặp gỡ có nguyên Bộ trưởng L.H.N., phó giáo sư tiến sĩ V.T.K. và người viết bài này, trong lúc vui vẻ, phó giáo sư V.T.K. than phiền với Bộ trưởng L.H.N.: Mấy tay vụ trưởng đi theo anh chuyến này vô Nam, qua nói chuyện tôi thấy các vị đó dốt quá! Nguyên Bộ trưởng L.H.N. nói: Ngày xưa dốt là từ cấp thứ trưởng trở lên, cấp vụ nó giỏi lắm, nay nó dốt xuống đến cấp vụ rồi!!!

Từ nền văn hoá làm quan, văn hoá quỳ lạy, đã hình thành một tâm lý xin-cho trong xã hội. Khi nhóm Cánh Buồm của nhà giáo Phạm Toàn soạn thảo bộ sách Học tiếng Việt cho học sinh lớp 1 theo hướng cải cách giáo dục, tôi đến chơi một người bạn cũ từng là một quan chức cao cấp, từng ở nước ngoài nhiều năm, có học thức cao… và tặng ông một trong các cuốn sách Học tiếng Việt đó. Cầm sách trong tay, ông nói ngay: Họ không cho lưu hành đâu anh ạ! Thì ra cái tâm lý xin-cho đã ngấm vào xương tuỷ giới trí thức nước ta. Trên phải cho thì dưới mới được làm! Dù chưa ai cấm đoán bao giờ!

Ít lâu sau, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có ý kiến phải đưa Hoàng Sa, Trường Sa vào sách giáo khoa cho học sinh phổ thông học. Thế là tôi viết giới thiệu bài tập đọc “Lễ thả thuyền ra Hoàng Sa…” đã có trong sách Tiếng Việt lớp 1 của nhóm Cánh Buồm. Báo Người Lao động TP HCM đã đăng ngay bài đó trong tháng 1-2014 (vì… Thủ tướng đã… cho… nói về Hoàng Sa và Trường Sa!!!). 

Ngày nay nước ta đã manh nha kinh tế thị trường, có bao nhiêu điều kiện và cơ hội để học làm người tự do, làm khoa học, làm chuyên môn, làm nghề… làm ra của cải cho một đất nước “đói nghèo trong rơm rạ” (Chế Lan Viên) thì trí thức nước ta cần mau chóng giã từ nền văn hoá làm quan, văn hoá quỳ lạy có cội nguồn từ văn hoá Khổng Mạnh Trung Hoa để canh tân đất nước. 

Để kết thúc bài viết này, tôi xin kể một câu chuyện về giáo sư Nguyễn Đăng Hưng, ông sinh năm 1941 tại xã Điện Thắng Bắc huyện Điện Bàn tỉnh Quảng Nam. Hiện ông là một Việt kiều ở Bỉ, hoạt động trong lĩnh vực khoa học không gian. Ông là một nhà khoa học rất nổi tiếng, là “một trong 10 người làm thay đổi nước Bỉ” như cách nói của chính phủ Bỉ. Ông giảng dạy ở bậc đại học đã nhiều năm, từng là trưởng Khoa Cơ học phá huỷ thuộc Khoa Kỹ thuật không gian Đại học Liège. Một ngày kia, đồng nghiệp của ông “phát hiện” ra ông chỉ có bằng kỹ sư, chưa có bằng tiến sĩ như bao đồng nghiệp khác đang làm việc cùng ông. Người ta đề nghị giáo sư Nguyễn Đăng Hưng làm hồ sơ để thi tiến sĩ. Khi giáo sư Hưng tập hợp các công trình mình đã làm và đã được ứng dụng trong sản xuất để trình Hội đồng, chuẩn bị cho luận án tiến sĩ sẽ làm, thì Hội đồng nhất trí cao rằng ông xứng đáng là tiến sĩ từ lâu rồi, khỏi cần thi! Tại một quán càfê ở đường Phạm Ngọc Thạch Quận 1 TP HCM cuối năm 2013 vừa qua, giáo sư Hưng tâm sự với chúng tôi: Mãi làm việc quá nên tôi… quên làm tiến sĩ.

Bao giờ cái văn hoá học để làm việc thay thế được văn hoá làm quanvăn hoá quỳ lạy trong giới tinh hoa ở nước ta, thì Việt Nam mới mở mày mở mặt được.

Tháng 6-2014
L. P. K.

Nguồn : Quechoa.blog